|
Edward Kang đã dành 15 năm xây dựng thương hiệu Ever-Glory International như một biểu tượng vượt trội thế giới của Trung Quốc trong lĩnh vực quần áo, giày dép và đồ chơi giá rẻ. Với doanh thu 70 triệu USD/năm, tập đoàn này đã có nhiều khách hàng lớn như Levi Strauss & Co. và Tesco Plc.
 |
| Nhiều nhà sản xuất Trung Quốc đã hướng tới Việt Nam, Ấn Độ thay vì tìm đến khu vực nội địa. (Ảnh Daylife) |
Tuy nhiên, do giá nhân công và tỉ giá đồng nhân dân tệ với USD ngày một gia tăng, ảnh hưởng tới lợi nhuận, Kang, 45 tuổi đã cân nhắc việc chuyển cơ sở sản xuất từ Nam Kinh vào sâu trong nội địa để tận dụng lợi thế từ chương trình hỗ trợ của chính phủ với các tỉnh nội địa có mức lương thấp. Và rồi, cuối cùng, ông lại quyết định chuyển 40% khả năng sản xuất đến một nhà máy hoàn toàn mới tại thành phố cảng Hải Phòng, Việt Nam trong vòng 5 năm.
Công nhân các tỉnh nội địa Trung Quốc không đủ kinh nghiệm, việc vận chuyển tới các cảng xa xôi chi phí quá đắt đỏ. Ông Kang nói: ’’Nếu chúng tôi không đáp ứng yêu cầu về giá của khách hàng, họ sẽ nói ’’Bye-bye, Ever-Glory’’.
Hàng nghìn công ty khác của Trung Quốc cũng đang có sự thay đổi tương tự. Với Việt Nam, Ấn Độ và nhiều quốc gia châu Á khác - nơi có những chính sách mạnh mẽ thu hút đầu tư nước ngoài, 1/3 nhà máy sản xuất ở tỉnh Quảng Đông - chiếm 30% sản lượng xuất khẩu của Trung Quốc - sẽ đóng cửa trong vòng ba năm (theo một báo cáo mới của Đào Đồng - chuyên gia kinh tế châu Á tại Credit Suisse, Hong Kong). Ông Đào nhấn mạnh: ’’Kỷ nguyên kết thúc của ngành xuất khẩu số lượng lớn tại Trung Quốc đang bắt đầu’’.
Hướng ngoại
Các nhà máy đóng cửa và chuyển ra nước ngoài dường như không ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của một nền kinh tế đang phát triển nhanh nhất thế giới khi Trung Quốc ngày càng thúc đẩy sản xuất những hàng hóa giá trị cao như chip máy tính, xe ô tô, đồ điện tử...
Những gì diễn ra tại Trung Quốc, là khoảng cách giàu nghèo ngày một lớn giữa người dân ở vùng duyên hải sầm uất với hơn 700 triệu người dân các tỉnh sâu trong đất liền (chiếm hơn nửa dân số Trung Quốc). Người dân các tỉnh nội địa Trung Quốc có thể không tìm thấy mình trong câu chuyện thành công mà nước này có được.
Xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao của Trung Quốc tăng 412% năm 2002 đạt 7,6 tỉ USD năm ngoái (chiếm 28,5% tổng giá trị xuất khẩu Trung Quốc). Tăng trưởng kinh tế dự báo đạt 10% năm nay và 9,5% năm 2009 (theo kết quả thăm dò 21 nhà kinh tế học của Bloomberg).
Giá nhân công rẻ
Tăng trưởng chủ yếu tập trung ở bốn tỉnh duyên hải phía đông nam Trung Quốc: Quảng Đông, Giang Tô, Phúc Kiến và Chiết Giang. Các nhà sản xuất quần áo, giày dép và đồ chơi mọc lên như nấm tại đây, với rất nhiều chính sách khuyến khích ban đầu thu hút các công ty nước ngoài như giá lao động rẻ, dễ tiếp cận cầu cảng và những đặc khu kinh tế miễn thuế nhập khẩu cùng nhiều sáng kiến hỗ trợ thuế khác.
Trong năm năm qua, Trung Quốc đã giành hơn 65% trong tổng số 792 tỉ USD đầu tư nước ngoài vào 21 quốc gia châu Á (thống kê của Ngân hàng phát triển châu Á). Một nhà kinh tế học nổi tiếng của Singapore, Lee Kuan Yew, năm 2002 đã ví von rằng: "Trung Quốc là một cái máy hút đầu tư trực tiếp nước ngoài’’.
Khoảng 90% lượng tiền đầu tư đổ vào khu vực duyên hải đông nam, nơi chiếm 60% tổng sản lượng xuất khẩu của Trung Quốc. Mức lương trung bình của người dân Đông Quản, thành phố thuộc tỉnh Quảng Đông - trung tâm sản xuất lớn nhất Trung Quốc - đã tăng lên gấp đôi, đạt 2.594 nhân dân tệ vào tháng 12/2006 (từ mức 1.284 nhân dân tệ vào năm 2001).
Nội địa xa xôi
Tính đến thời điểm này, những phần còn lại của Trung Quốc không hoàn toàn được chia sẻ lợi ích trong sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ. Thu nhập tại những khu vực nghèo nhất Trung Quốc ở phía Tây chỉ bằng 1/10 so với khu vực duyên hải giàu nhất phía đông. Mức lương trung bình của công nhân tại thành phố Cam Túc ở phía tây bắc là 1.437 nhân dân tệ.
Để khuyến khích đầu tư và thu hẹp khoảng cách phát triển, Chính phủ Trung Quốc đã thông qua chính sách ’’Tây tiến’’ vào năm 2000. Trung Quốc đã dành 1 nghìn tỉ nhân dân tệ (tính tới năm 2005) vào 70 chương trình cơ sở hạ tầng trọng yếu gồm công trình đường sắt 1.140km tới Lhasa, thủ phủ Tây Tạng (theo thống kê của Uỷ ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc). Đến giữa năm 2006, chính phủ trung ương tiếp tục đầu tư thêm 168 tỉ nhân dân tệ để xây dựng các sân bay, nhà máy điện và nhiều dự án khác trong khu vực miền Tây.
Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới, thậm chí đã được cải thiện, nhưng sự thiếu thốn về điện, đường xá giao thông đã khiến sản xuất ở Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam năm 2004 giảm 9,5%. Tại Thượng Hải, con số này là 2,3%.
Phân mảnh và kém hiệu quả
Chuyên gia Triệu Mẫn, nhà kinh tế học của WB tại Bắc Kinh cho rằng, công nghiệp vận chuyển của Trung Quốc vẫn còn ’’phân mảnh và kém hiệu quả’’. Sự tương tác tốt hơn giữa đường sắt, đường thủy và đường bộ ’’có thể làm giảm chi phí và gia tăng tính cạnh tranh giữa các khu vực nội địa’’, bà cho biết.
Một số bất lợi khác còn gồm: Chi phí bắt đầu một công việc sản xuất và kinh doanh ở các khu vực tây nam cao gần gấp ba khu vực duyên hải đông nam, thời gian có được một khoản vay tín dụng dài hơn hai lần (theo WB trong báo cáo ’’Kinh doanh tại Trung Quốc năm 2008’’).
Tỉ giá đồng nhân dân tệ so với USD tăng 4,45% trong bốn tháng đầu 2008, gần gấp đôi so với năm ngoái cũng gây bất lợi cho ngành xuất khẩu tại Trung Quốc.
Mục đích đầu tư
Năm ngoái, các công ty nước ngoài thông báo có ké hoạch đầu tư 11,6 tỉ USD vào khu vực miền trung và miền tây Trung Quốc, tăng 30% so với con số 8,9 tỉ USD năm 2003 (theo trung tâm thông tin đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bắc Kinh). Con số này tỏ ra khá khiêm tốn so với tổng vốn họ dự định đầu tư vào Việt Nam, 40,1 tỉ USD năm 2007 tăng 354% so với 2003 và vào Ấn Độ - tăng 174% đứng ở mức 52,6 tỉ USD.
Công ty giày dép Hà Phong, Chiết Giang có một nhà máy sản xuất tại Chiết Giang với 1.000 lao động, đang tính tới chọn lựa thay đổi địa điểm, trong đó có Việt Nam. Nhà quản lý xuất khẩu Ray King cho biết: ’’Khách hàng phàn nàn về giá cả của chúng tôi, họ luôn nói những nhà cung cấp khác tại Việt Nam và Thái Lan đưa ra giá hấp dẫn hơn’’.
Việt Nam và Ấn Độ đã trở thành mảnh đất hấp dẫn hơn với Trung Quốc trong ngành công nghiệp chi phí thấp. Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 càng có điều kiện tiếp cận thị trường thế giới dễ dàng hơn. PricewaterhouseCoopers vào tháng 7 năm ngoái đã xếp Việt Nam là điểm đến cạnh tranh nhất cho ngành kinh doanh sản xuất trong số top 20 thị trường mới nổi của thế giới. Trong danh sách này, Trung Quốc đứng thứ hai.
Lương thấp
Người lao động Việt Nam trung bình kiếm được 104 USD/tháng, thấp hơn với mức lương thấp nhất của công nhân Trung Quốc ở tỉnh Giang Tây là 41% (số liệu của WB).
Mức lương công nhân của Ấn Độ còn thấp hơn Việt Nam, trung bình khoảng 87 USD/tháng. Ấn Độ có những ’’bản sao’’ đặc khu kinh tế của Trung Quốc, với hơn 400 đặc khu sẽ cung cấp giá đất thuê rẻ cùng với những khoản miễn thuế nhập khẩu, thuế ưu đãi khác.
Ấn Độ là thành viên của WTO từ tháng 1/1995, đứng thứ 7 trong xếp hạng của PricewaterhouseCoopers, sau Việt Nam, Trung Quốc, Ba Lan, Chile, Malaysia và Thái Lan.
So sánh giá nhân công lại càng trở nên hấp dẫn hơn ở Việt Nam và Ấn Độ, khi trong tháng 1, luật lao động mới tại Trung Quốc yêu cầu các công ty phải trả lương tối thiểu và các khoản khác cho công nhân. Luật này đã kiến chi phí lao động tăng thêm 22% (theo Hiệp hội Công nghiệp Hong Kong).
Trong một báo cáo Credit Suisse, ông Đào nhấn mạnh: "Những lợi thế Trung Quốc từng có như một công xưởng của thế giới giờ đây đã qua". |