|
|
Đối diện với nhiều thách thức LTS: Bài này nảy ra trong đầu người viết khi đọc được phát biểu của GS.TS. Vũ Đình Bách, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn kinh tế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trả lời phỏng vấn trên tờ Pháp Luật TP.HCM (27-4-2008). Trước những tin tức không mấy khả quan từ thị trường, GS Bách nhận xét rằng, lạm phát lần này là một cơ hội để cải cách tập trung vào hai điểm cốt lõi. Thứ nhất, đây là dịp thử thách Chính phủ trong quản lý kinh tế vĩ mô. Tính phức tạp của tình hình mới đòi hỏi mỗi bước đi kế tiếp phải có những bước tính toán cụ thể. Thứ hai, phải xem lại mô hình tập đoàn và việc tổ chức lại các ngân hàng nhà nước. Sau hơn hai mươi năm Đổi mới, đã đến thời điểm thích hợp ngồi lại rút kinh nghiệm về mô hình tổ chức, điều chỉnh cho phù hợp với xu thế chung.
Vì vậy, yếu tố đóng vai trò tiên quyết trong lúc này là cần xây dựng một chiến lược hợp lý thúc đẩy những cải cách mạnh mẽ hướng đến sự phát triển bền vững trong tương lai. Hai thời điểm - Một mục tiêu Nhớ lại những cuộc tranh luận trước thềm Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cuối năm 2006, đầu 2007, nhiều kinh tế gia đã dự đoán rằng, với mức độ tăng trưởng kinh tế lạc quan trong nhiều năm liền, cùng động lực tham gia vào “chợ toàn cầu”, Việt Nam đang chuẩn bị “cất cánh” (take-off), lập luận theo mô hình năm giai đoạn phát triển của kinh tế gia người Mỹ W. Rostow. Theo mô hình này, trong giai đoạn “cất cánh”, những thay đổi sẽ không còn chỉ tập trung về số lượng, mà bắt đầu hình thành những chuyển đổi đột phá mang tính phẩm chất. Điều đó đồng thời bao hàm hai ý nghĩa. Thứ nhất, hàm lượng của nền kinh tế có khả năng tăng đột biến do những yếu tố cần thiết đã hình thành: con người, vốn tư bản, nhà xưởng, công nghệ, mạng lưới phân phối, bán hàng, thương mại trong và ngoài nước… Và ngay lập tức dẫn đến câu hỏi của vế thứ hai: Làm sao gắn kết những yếu tố trên thành một hệ thống hoàn chỉnh? Diễn đạt cách khác: Năng suất của cả nền kinh tế sẽ phụ thuộc phần nhiều vào việc xây dựng các thiết chế hiệu quả để quản trị các yếu tố trên. Điều đó, trong trường hợp của Việt Nam, cũng đồng nghĩa với việc phải diễn ra một thay đổi có tính tư duy về cung cách tiếp cận từ khoa học, công nghệ, phương pháp tổ chức, quản lý, điều hành,… nếu muốn nền kinh tế “cất cánh” hóa hổ, hóa rồng. Dĩ nhiên, quá trình này đòi hỏi thời gian. Ai cũng biết, không thể bắt một anh bao năm trồng lúa sáng thức dậy trở thành một nhà quản lý xí nghiệp giỏi. Vấn đề ở đây là việc vô lý này lại trở thành có lý trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay. Bên cạnh cơ chế “cả hai cùng thắng” (win-win situation), còn tồn tại song song một cơ chế khác với cái tên hoàn toàn đối nghịch: “được thì ăn cả” (The Winner-Take-All Society - với ý tưởng xuất phát đầu tiên có thể từ cuốn sách của hai tác giả người Mỹ Robert Frank và Philip Cook năm 1995). Diễn đạt như những “nhà toàn cầu hóa”: Người nào muốn chiến thắng, không chỉ là người mạnh nhất, nhanh nhất, giỏi nhất, mà quan trọng hơn: anh ta phải là người biết thích nghi tốt nhất với sự thay đổi chóng mặt của môi trường. Sự thích nghi này tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh và chính nó cũng tạo ra một bức tường thách thức tham vọng những nền kinh tế non trẻ. Khác với những đòi hỏi thay đổi trước đó, vấn đề của năm 2008 “nóng” hơn, vì những hệ quả của nó dần dần được “cảm nhận” rộng rãi. Kinh tế Việt Nam đang đối mặt những thách thức nghiêm trọng khi nền kinh tế thế giới đang xoay vòng trước khủng hoảng năng lượng, lương thực và suy thoái chung. Theo kịch bản bi quan nhất mà Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương vừa công bố: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2008 có thể chỉ đạt 6,7% và lạm phát lên tới 22,3%. Những con số này đặt lại vấn đề về tính cấp thiết trong những thay đổi hành chính, quản lý mang tính sâu rộng và quyết liệt hơn. Như vậy, một đằng là kiến nghị dựa trên những con số thống kê lý thuyết, một đằng là thực tế cuộc sống đang chuyển động, hai thời điểm khác nhau đi đến cùng một mục đích: Cải cách cơ chế, mà tập trung chủ yếu vào những địa hạt liên quan đến Nhà nước, đang giữ vai trò thành bại cho những bước đi kế tiếp. Tháo gỡ “nút cổ chai” Tuy còn nhiều tranh luận về mức độ, lộ trình cũng như các phương pháp thực hiện, một điểm đồng thuận được nhiều báo cáo nghiên cứu về tình hình Việt Nam khẳng định: khu kinh tế quốc doanh đang cần một cuộc tổng tái cấu trúc trên quy mô lớn. Điểm đồng thuận này - trình bày một cách đơn giản - có thể dựa trên ba lập luận chủ yếu sau: (i) Mặc dù đến nay không ai còn nghi ngờ về tiềm năng cũng như khả năng của hai khu vực dân doanh trong nước và đầu tư nước ngoài vào tỷ trọng của nền kinh tế, nhưng khu vực Nhà nước vẫn được chủ yếu ưu tiên hơn hết thảy. Trên thực tế, dù khu vực kinh tế này đóng góp nhiều nhất vào ngân sách quốc gia, nhưng nhiều ý kiến cho rằng liệu đóng góp đó có tương xứng với tỷ lệ tài nguyên quốc gia họ đang được quản lý và sử dụng hay không? Thậm chí, sự ưu đãi này có ảnh hưởng tiêu cực gì về lâu về dài đến môi trường kinh doanh chung cả nước? (ii) Thêm nữa, những đặc quyền trên càng được mở rộng thông qua mối lên kết mật thiết - xuất phát từ nguồn gốc lịch sử - giữa các tập đoàn kinh tế với các cơ quan công quyền. Liên kết này một mặt tạo sự trao đổi thông tin giữa người kinh doanh và người làm chính sách, giúp cho đạo luật, nghị định làm ra đi vào thực tế hơn. Nhưng ngược lại, do tiếng nói không phải đại diện cho tất cả, có chọn lọc, có thể dễ dẫn đến hiện tượng “chủ nghĩa tư bản thân hữu” (crony capitalism), thể hiện qua kịch bản quyền lực chính trị kết hợp với sức mạnh kinh tế. Những hợp đồng kinh tế béo bở, những khoản tín dụng ưu đãi, hay khả năng tư hữu hóa tài sản Nhà nước qua nhiều hình thức khác nhau là những thí dụ nhãn tiền. Trong một bài phỏng vấn gần đây, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan dẫn ra một số thống kê cho thấy, các doanh nghiệp đã huy động vốn gần hơn 20 lần số vốn tự có của mình. Số vốn này quá lớn, nếu sử dụng không hiệu quả, mỗi mất mát sẽ lớn vô cùng với xã hội (VNN, 26-4-2008). (iii) Sự lớn mạnh của các tập đoàn kinh tế làm nhiều người liên tưởng đến những mô hình cổ điển mà các keiretsu của Nhật Bản và chaebol của Hàn Quốc đã từng thành công (mặc dù các mô hình này theo thời gian đã lộ ra những điểm yếu của nó). Tuy vậy, sự chuyển dịch môi trường và nhiệm vụ kinh doanh của những tập đoàn, mà công luận đồng loạt lên tiếng trong thời gian gần đây, làm nhiều người phải đặt lại câu hỏi về vai trò chiến lược của những tập đoàn này. Thí dụ như trường hợp mới đây: Trong khi toàn quốc đang chịu cảnh thiếu điện, thì báo chí lại đưa tin Tập đoàn Điện lực Việt Nam đầu tư 260 triệu USD xây resort đặt tại Khu kinh tế du lịch Chân Mây - Lăng Cô, Thừa Thiên - Huế. Rõ ràng, việc sở hữu nhiều đặc quyền hơn, nhưng đầu tư vào nhiều lĩnh vực không đúng với chức năng, không hiệu quả có thể gây những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với môi trường cạnh tranh lành mạnh và tác động xấu đến tình hình kinh tế và phát triển chung. Trước thềm Đại hội Đảng X, trong một bài viết có tên “Sự trỗi dậy của các nhóm lợi ích và tương lai của Đổi mới”, tác giả Nguyễn An Nguyên từ Đại học Rice Hoa Kỳ đã lên tiếng cảnh báo về hiện tượng lũng đoạn chính sách Nhà nước mà xuất phát từ sự xuất hiện của các nhóm lợi ích tư hình thành từ trong lòng những chính sách được ban hành. Những nhóm này ít thành viên nhưng có triển vọng thu lợi lớn từ việc bóp méo chính sách lại thường có khả năng cấu kết rất chặt, vì thế mà thường thành công hơn những đám đông to lớn thiếu tổ chức. Từ đó, tác giả nhận xét việc kiềm chế và thuần hóa những nhóm này là thách thức hàng đầu của Nhà nước để đi những bước cải cách tiếp theo. Nhắc lại báo cáo phân tích của nhóm giáo sư Harvard “Lựa chọn thành công - Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam” trình Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong đầu năm nay cũng đã đưa ra nhận định rằng nền kinh tế Việt Nam đang đi gần quỹ đạo của những nước Đông Nam Á, hơn là Đông Á, thậm chí còn có dấu hiệu “lặp lại bánh xe đổ” của các nước này trước thời kỳ khủng hoảng tiền tệ 1997-1998. Và một phần quan trọng nhóm học giả này kiến nghị rằng: “Các nhà lãnh đạo của Việt Nam cần nhìn nhận những xu thế này như những lời cảnh báo cấp thiết về nhu cầu phải có những thay đổi chính sách thực sự”. Tóm lại, lạm phát, bão giá gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực, nhưng cũng là cơ hội để thể hiện quyết tâm chính trị của Nhà nước trong công cuộc cải cách. Hơn bao giờ hết, đây là thời điểm rất thích hợp để thuyết phục và tập hợp đồng thuận cho những chính sách quyết liệt hơn. Thiên thời địa lợi đã có, lo chăng chỉ còn thiếu phép “nhân hòa”! Theo TRƯƠNG MINH
Ý Kiến Độc Giả: CÁC TIN ĐÃ ĐĂNG:
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||