Danh sách “ma”, khối lượng cũng “ma”
Ngày 4/3/2008, UBND xã Thượng Long có tờ trình số 06/TTr-UB, một ngày sau đến lượt xã Thượng Nhật có tờ trình tương tự số 07/TTr-UB gửi UBND huyện Nam Đông xin tận thu gỗ lóc lõi, cành ngọn, gốc đe trên nương rẫy, đất trồng cao su...
Sau khi có công văn 82/UBND-KL (ngày 29/3) gửi Sở NN&PTNT Thừa Thiên - Huế và được chấp nhận (theo công văn 409/CV-NNPTNT ngày 10/4), ngày 18/4, huyện Nam Đông đã ra liền 2 quyết định số 370 và 371/QĐ-UBND lần lượt cho phép các hộ gia đình có tên trong danh sách đính kèm với tờ trình của 2 xã Thượng Long, Thượng Nhật được tận thu. Các quyết định này được kế tiếp bởi một quy chế ngày 2/5, xem ra rất chặt chẽ và kín kẽ về mặt quy trình.
Ở xã Thượng Nhật, theo kê khai ban đầu chỉ có 10 hộ gia đình, nhưng tổng khối lượng tận thu lên tới 77,119m3. Ở Thượng Long, con số “ấn tượng” hơn nhiều với 40 hộ và khối lượng tận thu là 202,059m3.
Mặc dù có những con số chi tiết tới chữ số thập phân hàng nghìn như vậy, nhưng theo điều tra của Dân trí, đó là những con số do cán bộ xã lập bừa chiếu lệ. Theo đó, phần đông các hộ có tên trong bản danh sách này đều không biết mình được “chiếu cố”, cũng không hề ký vào một giấy tờ, văn bản nào liên quan.
Chính vì vậy, sau khi một cán bộ cấp huyện cảm thấy “nghi ngờ” và yêu cầu 2 xã rà soát, thẩm tra lại thì lập tức các con số thay đổi đến bất ngờ.
Ở xã Thượng Nhật, số hộ gia đình thuộc diện có gỗ tận thu được điều chỉnh thành 16 hộ, nhưng đáng chú ý là chẳng có hộ nào trong bản danh sách mới này trùng với khớp với các hộ trong danh sách ban đầu.
Khối lượng gỗ tận thu cũng giảm từ hơn 77m3 xuống còn 32,335 m3. Ở xã Thượng Long, con số mới chỉ còn là 20 hộ, khối lượng 31,804 m3, bằng 1/6 khối lượng kê khai ban đầu. Trong số 20 hộ này, chỉ có 3 hộ trùng với danh sách 40 hộ ban đầu.
Căn cứ theo tờ trình mới của 2 xã này, huyện lại ra 2 quyết định 804/QĐ-UBND và 805/QĐ-UBND ngày 3/7/2008 thay thế cho các công văn số 370/QĐ-UBND và 371/QĐ-UBND, trong đó hoàn toàn thống nhất về số lượng hộ và khối lượng tận thu mà các xã đã tường trình lên.
Trao đổi với Dân trí, một cán bộ xã Thượng Long thừa nhận, ban đầu xã đã “lập đại” một danh sách chứ chưa kiểm tra đầy đủ. Còn một lãnh đạo huyện thì cho rằng do ông tin vào cán bộ cấp dưới nên đã duyệt danh sách mà không cho thẩm tra lại.
Gỗ lóc lõi được… đốn ở rừng tự nhiên
Để tìm hiểu nguồn gốc thực của số gỗ được cho là “lóc lõi, cành ngọn, gốc đe” đã được kiểm lâm địa bàn và cán bộ lâm nghiệp 2 xã kiểm tra, đánh số, PV Dân trí đã đóng vai đầu nậu mua gỗ tiếp cận với nhiều người dân có tên trong danh sách đính kèm theo công văn 804 và 805/QĐ-UBND của huyện Nam Đông.
Theo ghi nhận, các phách gỗ được đánh số đều là lim (loại gỗ quý thuộc nhóm 2A, theo quy định phải hạn chế khai thác vì mục đích thương mại). Phần lớn các phách gỗ này đều mới khai thác, được cắt xẻ bằng cưa máy và vận chuyển từ rừng về, phần lớn bằng trâu kéo theo đường rừng.
Tưởng gặp được dân mua gỗ, nhiều người dân ở đây đã không ngần ngại “quảng cáo” về gỗ của mình: gỗ khai thác từ rừng tự nhiên, nếu muốn mua với số lượng lớn thì khoảng 15 ngày sau quay lại sẽ có lứa gỗ mới với giá dao động từ 8 -10 triệu đồng/m3, tùy theo quy cách gỗ.
Ở xã Thượng Nhật, hầu hết số gỗ của các hộ có tên trong danh sách đều đã được đánh số nhảy (tức đánh số lũy tiếp từ hộ này sang hộ khác - theo giải thích của một cán bộ kiểm lâm địa bàn là cách đánh số này nhằm tiện quản lý).
|
|
|
Ông chủ tịch xã Thượng Long đi kiểm tra số gỗ đã đóng búa kiểm lâm sau khi được PV phản ánh. |