“Thả trôi theo nước tiến ra cửa vàm, năm nay đoàn ghe chứt Thượng (1) không xuôi theo dòng đông Sau về ben Ca Lâu, mà căng buồm ngược dòng qua bờ bên kia, đến chòm Ca, Ca Dâu rồi vào cửa sông uất mà đến con lạch trước mặt cồn Cỏ. Từ đây các tay chèo bơi thuyền sâu vào đồng nước, nhắm hướng Con Sam (2) mà đi về phía các bàu tró (3). Cũng như mọi năm, mùa cắt năm nay bắt đầu trước Chạp, nhung không về trong Tết kịp cúng cơm mới mà phải ở lại ra Giêng, do đi đường xa, và do mới tìm được một hà môn mới mút tầm con mắt”. (Trích Thư Của Bọ)
Khi các đoàn lưu dân người Việt và người Miên bắt đầu tiến về đồng bằng Cửu Long trong khoảng thế kỷ XVI thì ở đó vẫn còn những nhóm nhỏ rời rạc cư dân bản xứ sống giữa những cồn cao ven rạch, ven sông hoặc theo các mép nước ở ven chân núi. Có vẻ như họ vẫn nói thứ tiếng Nam Đảo từ thời đế chế Sri Vijaya như những người Orang Asli ở Mã Lai (Malaysia) và Nam Dương (Indonesia) ngày nay. Họ tiếp cận và hoà nhập nhanh chóng với ngôn ngữ Nam Á của các nhóm Mường-Việt và Môn-Khmer mới tới, và rồi để lại nơi đồng bằng này những dấu ấn văn hoá đậm đà. Cho dù hậu duệ của họ có thể không còn hay đã lai dòng nhiều đời với các lưu dân trước khi những người Hoa đến đây định cư và chúa Nguyễn thiết lập nền hành chánh Nam bộ.
Những lưu dân người Miên đầu tiên đổ xuống An Giang, Kiên Giang và Cà Mau, Bạc Liêu theo đường núi Thất Sơn, tái lập xứ Tà Lọt huyền thoại của thời văn hoá Óc Eo. Những di dân người Miên lánh nạn đến sau, thiết lập những nơi cư trú mới trên các giồng cao ở tận miền biển Sóc Trăng, Trà Vang. Trong khi đó, các di dân người Hoa trốn chạy Mãn Thanh thành lập các cộng đồng ở Hà Tiên, Đông Phố, Mỹ Tho… Dòng lưu dân người Việt được biết đến đầu tiên ở Mô Xoài (Bà Rịa), Bình Giang (Bình Dương) và rồi đến sông Vàm Nao tạo nên Vạn Chiêng, phát triển nên vùng đất Hai Huyện, thiết lập thêm nhiều trung tâm cư trú mới trên vùng sông nước Cửu Long gọi là tứ chiếng, tổ chức thành các bạn nghề gọi là nghì (4)…
Vừa tờ mờ sáng, đoàn ghe đã vào hết trong rạch Cồn Thảo, gồm 2 chiếc ghe bầu cỡ lớn đi kèm 2 chiếc ghe nóc và 14 thuyền chèo lớn nhỏ. Họ dừng lại ở nơi lòng búng (5) không xa cửa vàm, thả neo ghe bầu ngay giữa dòng nước để tránh bầy chuột bơi ra đục đáy. Các bạn cắt mau mắn lên bờ, dựng trại, móc đất, đắp lò, rèn lại mấy lưỡi hái, lưỡi vằng lâu ngày bỏ không. Chợt xuất hiện một chiếc độc mộc gỗ gáo ở cuối con búng. Người ngồi trên đó quan sát lúc lâu rồi vạch qua đám cỏ kêu lớn mấy tiếng lo! lo!, ra dấu bơi đến gần rồi lặp lại mấy tiếng lò mo! lò mo!... trước khi quay ngoắt con thuyền về phía hói nước. Ba chàng trai trên bờ nhanh chóng cột lại thắt lưng cầm mấy nắm cơm, nhảy phắt xuống ba chiếc thuyền con đuổi theo về phía đồng sâu.
Chiều hôm đó, cả ba trở về mang theo một người phụ nữ. Trong khi mọi người chưa hết ngạc nhiên thì người chủ bạn bước ra, nắm tay đưa lên bờ, đặt ngồi đối diện, chuyện trò lâu giờ bằng cả ngôn ngữ lẫn cử chỉ, rồi đi ngủ. Sáng hôm sau ông để lại đó hai chiếc ghe bầu và mấy chiếc thuyền nhỏ. Số đông còn lại đi sâu vào đồng lúa trời nổi trên mặt nước, tiến về phía tây theo hướng dẫn của người phụ nữ chính là con gái của người Ya (6) Ca Lâu. Họ dừng lại ở nơi cụm gò nổi trên mặt nước, nơi hàng chục con người cả nam lẫn nữ chạy ra khỏi trại hân hoan chào đón. Và rồi một vùng Ba Trại được hình thành phía nam Núi Sam, bên cạnh khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư ngày nay. Trên thực tế, lò mo không chỉ là huyền thoại một cuộc tình mà là sự khai sinh vùng đất Lò Mo, nơi có sự cộng cư đầu tiên của người Việt với người bản địa, sử cũ ghi là vùng Ca Âm, và người thời nay thường gọi những nền cũ đó là các chòm Ca.
Tôi tìm đến Ca Lâu vào giữa mùa nước 1976 sau khi bơi xuống vào rạch Chắc Cà Đao, khoảng 3 cây số đến ngã ba rạch Chanh thì theo dòng bên phai chèo tiếp đến non cây số. Xóm Ca Lâu hiện ra ở đó, giữa những lùm tre tứ bề ngập nước, đúng vào vị trí ghi trên bản đồ Soreah của đoàn nghiên cứu Hà Lan vẽ năm 1974. Chuyến đi thật không uổng vì có thể tận mắt nhìn thấy dấu ấn rất sớm của người Việt giữa đồng Cửu Long: những ngôi nhà cổ khiêm tốn và cách bày biện, những bụi tre, những hàng cau, một thứ tiếng Việt nửa cũ nửa mới và cách phát âm là lạ làm người ta xếp chòm Ca này như một phum sóc người Miên, và những câu chuyện kể đoạn tỏ đoạn mờ chứng tỏ dòng thời gian đang nhanh chóng bôi xoá!
Khi trở lại đầu vàm đi tìm dấu vết Ca Đao thì không còn nữa; nơi đây đã trở thành ngôi chợ Chắc Cà Đao (Hoà Bình Thạnh), tuy những lùm tre đặc trưng vẫn còn nhìn thấy rải rác xa xa. Nhưng khi bơi xuồng theo bờ Hậu Giang đen sông Cù Úc đối diện Vàm Nao, nơi che khuất khỏi cửa Vàm Sau bởi cồn Bình Thuỷ, thì khung cảnh quen thuộc của các chòm Ca lại xuất hiện. Nằm ở trung tâm xứ chòm ca này là họ Năng Gù được lập ra bởi các di dân lánh nạn bắt đạo Gia Tô từ cuối thế kỷ XVIII, tương tự nơi họ Bò Ót ở về phía nam. Khoảng năm 1832 người Năng Gù bắt đầu gieo sạ lúa nổi thay cho việc thu hoạch lúa trời vốn mỗi lúc một hiếm trong khi dân cư mỗi ngày một thêm đông. Ngày nay ngư dân Bình Thuỷ vẫn là những người đánh bắt cá sông kinh nghiệm nhất, vẫn tổ chức thành bạn mà nay gọi là đội, và sản phẩm là các loài cá lớn của dòng Cửu Long, từ cá hô Catlocarpio siamenis đến cá heo sông Orcaella brevirostris và cá tra khổng lồ Pangasianodon gigas.
Nền Ba Trại nằm trên bờ của con sông cái bồi cạn, chạy song song gần sát rặng núi Thất Sơn, lúc bấy giờ nối với hàng trăm con hói nước đen chảy dưới các rừng tràm thâm u gọi là O Long Vĩ. Trong cơn đại hồng thuỷ bắt đầu khoảng năm 350, lúa trời ở đồng Mớp Văn nhiễm mặn mất dần, người Óc Eo di chuyển theo dòng sông cái lên các vùng cao trên bờ. Nhưng sang thế kỷ thứ 5 khi kinh đô Ba Thê dời về Angkor Borei thì người Óc Eo di chuyển theo các con rạch đi về phía đông, qua vùng Đá Nổi Phú Hoà đến Ca Lâu, Bình Thuỷ, hay qua Ba Trại về Núi Sam đến vùng Châu Đốc. Đến đỉnh cao hải xâm trong khoảng 650 thì họ đã định cư bên bờ sông Hậu, trên các gò cao nơi đầu ngọn rạch nối đồng lúa trời với nguồn nước ngọt. Nhưng sau thế kỷ XIII khi nạn hồng thuỷ rút đi thì họ vẫn lại đó, lưu giữ những ký ức về một đất nước oai hùng, về một niềm tin vào Bà, tức người Mẹ sinh ra thung lũng núi đôi. Họ đã quên đi các vị Chúa Xứ cho tới khi người Việt tìm thấy các dấu tích bị vùi lấp dưới các lớp đất ở các chân núi. Và họ dựng lại để thờ ngay nơi tìm thấy, phục hồi một tín ngưỡng dân gian xưa cũ kết hợp tôn thờ Vía Bà với vị chúa Xứ Sở, gọi là Bà Chúa Xứ như ở Núi Sam hiện nay.
(1) Chứt, chút hay út Thượng tức ông Hoàng Thượng. Tương truyền thuộc tôn thất nhà Mạc, bôn đào đến vùng đèo Ngang đổi làm ho Hoàng. Sau khi Nguyễn Hoàng trấn nhậm Thuận Hoá năm 1558 thì di cư xa vào phía nam, đến đồng bằng sông Cửu Long đổi làm họ Huỳnh, nhưng không rõ từ năm nào, có thể vào lúc chúa Nguyễn tổ chức đăng bộ hành chánh để khai ấp lập làng.
(2) Con Sam tức Núi Sam, người xưa quen gọi sông núi bằng con, gọi nơi ở bằng kẻ, cả, cai, hay rặt ri Nam bộ là ca, cà, ngã, hay đặt thành tên chữ Nho bắt đầu bằng con. Trên thực tế Núi Sam giống hệt con sam cô độc trầm mình giữa đồng nước nổi nên cũng có tên là Học Lãnh Sơn. Các con sông xếp chạy vòng phía sau một cồn lớn gọi là uất hay úc. Về sau người ta đặt thành tên chữ cho cồn Cỏ là Cần Thảo để chỉ con rạch đối diện, còn cù lao Khánh Hoà lúc bấy giờ gọi là Tầm Bon, cũng gọi là Ca Tầm Bon do có sự cộng cư giữa lưu dân người Việt và người bản địa. Sử sách nhà Nguyễn sau này gộp chung các thế đất cồn bãi ven sông Cửu Long là xứ Tầm Phong Long.
(3) Bàu tró là cánh đồng lúa trời; nơi đây tập trung nhiều bàu tró nối tiếp nhau nên gọi chữ là hà môn. Người bản xử gọi là lò mo, phát âm từ tiếng Việt ló môn, nghĩa là loại lúa dại Oryza sativa hạt to vỏ đỏ lúc bấy giờ mọc hoang theo con nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long.
(4) Ở vùng sông nước Cửu Long, ban đầu người tứ xứ tụ tập buôn bán trao đổi nơi các bến nước gọi là chợ nổi, rồi lên bờ lập chợ gọi là thị tứ. Người các nơi đến đó để làm ăn sinh sống gọi là dân tứ chiếng.
Bạn là tập hợp những người cùng làm ăn chung với nhau, thường theo cùng một nghề, đi chung một đoàn. Người trưởng đoàn là chủ bạn, cũng gọi là bầu, thân thiết hơn nữa thì gọi nhau là bầu bạn. Những người không chịu kết bạn để lo làm ăn thì gọi là “vô nghì”; thường họ không có được cái “nghĩa khí” đặc trưng Nam bộ là giúp nhau trong mọi cơn hoạn nạn, nên thơ ca cổ thường xếp chung kẻ “vô nghì” với người “bất nghĩa”.
(5) Búng là vũng nước lớn nằm ở giữa lòng rạch, đáy sâu nên không bị cỏ mọc, và thường được vây quanh bởi mấy cây gáo.
Hói là luồng nước chảy (dòng chảy nhỏ) ở đây là rãnh nước giữa đồng cỏ hay đồng lúa trong mùa nước nổi.
(6) Ya là người phụ nữ cao trọng nhất của một Ca, có nghĩa là Bà mà cũng có nghĩa là Già hay người cả. Người Việt miền Nam cũng theo đó gọi cha là Ông Già, đứng vào hàng cả, các con chỉ được gọi theo thứ từ Hai, Ba, Tư… đến Út.

H1: Núi Sam – trung tâm của vùng lúa trời Lò Mo

H2: Đồng lúa nổi Ba Trại nằm giữa núi Sam và rặng Thất Sơn

H3: Đánh bắt cá hô, nguồn thu nhập của cư dân Bình Thủy
Tre Today (st) |