Tin Việt Online
   
English Phim Download Ca Nhạc Diễn Đàn Liên Lạc RSS Site Map Search
Trang Nhất
Tin Nổi Bật
Bình Luận
Thế Giới
Việt Nam
Người Việt Hải Ngoại
Hoa Kỳ
Kinh Tế
Khoa Học
Thể Thao
Pháp Luật
Xã Hội
Sức Khỏe
Giải Trí
Chuyện Lạ
Tử Vi / Bói Toán
English News
Hoàng Sa/Trường Sa
Daily Hot Deals
   
Newsletter
To receive daily news, enter your email address below:

Un-Subscribe

Dictionary

Submit

Báo Cũ
<<September 2008>>
Su Mo Tu We Th Fr Sa
 1  2  3  4 5 6
 7 8 9 10 11 12 13
 14 15 16 17 18 19 20
 21 22 23 24 25 26 27
 28 29 30
 
Thế Giới

Hồ sơ mật về vụ cướp ngân hàng Brink

Trong năm 2008, Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) sẽ kỷ niệm 100 năm thành lập 1908-2008. Nhân sự kiện này, nhiều vụ án lớn xảy ra ở Mỹ trong 100 năm qua mà FBI dày công khám phá đang được báo chí nước này lần lượt đăng tải.

brink.jpg

Các bao tải đựng mảnh ô tô được phát hiện tại khu bãi rác ở Stoughton, Massachusetts.

Vụ cướp tiền ở Ngân hàng Brink, một vụ án mà FBI đã phải dồn toàn lực điều tra suốt gần 10 năm mới được đưa ra ánh sáng.

Thông tin ít ỏi về bọn cướp

Ngay trước 19 giờ 30 phút ngày 17/1/1950, một toán đàn ông mang mạng che mặt và vũ khí vội vàng rời khỏi ngôi nhà số 165 trên đường Hoàng Tử ở Boston, bang Massachusetts và mang theo nhiều túi đựng số tiền mặt gồm 1.218.211,29 USD và số séc, ngân phiếu, cổ phiếu chứng khoán trị giá 1.557.183,83 USD.

Sau khi những tên cướp rời khỏi hiện trường, một nhân viên của Brink mới gọi điện báo cho Cảnh sát Boston. Chỉ vài phút sau, cảnh sát đã có mặt tại tòa nhà Brink và các nhân viên đặc biệt của FBI đã bắt tay ngay vào  điều tra.

Từ lời kể của 5 nhân viên ngân hàng bị bọn cướp khống chế trong lúc chúng tấn công ngân hàng, lực lượng điều tra chỉ xác định được có khoảng từ 5 đến 7 tên đã xông vào ngân hàng, bọn chúng mặc áo mưa như loại trang bị cho hải quân, mang găng tay và đội mũ lưỡi trai hiệu Chauffeur. Tên nào cũng đeo mặt nạ dùng trong lễ hội Halloween. Để tránh phát ra tiếng động của bước chân, một tên đi giày đế kếp, những tên còn lại đi giày đế cao su.

Bọn cướp giữ im lặng gần như tuyệt đối. Chúng di chuyển hết sức chính xác, chứng tỏ trước khi hành động chúng đã lên kế hoạch rất chi tiết và đã tập dượt nhiều tháng liền. Bọn cướp mở khóa ít nhất 3 cửa lớn trên các lối đi dẫn lên tầng 2 của tòa nhà Brink, nơi lúc đó có 5 nhân viên của ngân hàng đang kiểm tra và cất số tiền mà Brink nhận được của khách hàng trong ngày.

Cả 5 nhân viên ngân hàng bị bọn cướp dùng súng khống chế bắt nằm úp mặt xuống sàn nhà trong tình trạng 2 tay bị trói quặt ra sau lưng và miệng bị dán băng keo.

Sau khi bọn cướp nhét hết tiền cướp được vào túi và xếp các túi thành đống giữa cửa lớn thứ hai và thứ ba dẫn ra phố Hoàng Tử thì  có một tiếng chuông đột ngột vang lên. Bọn cướp mới chỉ kịp tháo băng bịt miệng một nhân viên để kiểm tra xem ai gây ra tiếng chuông ấy thì phát hiện ngay ra có một người khác đang đi tới. Người này là nhân viên phục vụ tại khu để xe của tòa nhà Brink. Chúng tiến ra phía cửa định bắt giữ anh ta nhưng anh ta đã quay ra mà không hề hay biết gì về vụ cướp đang xảy ra. Vì thế bọn cướp đã không đuổi theo anh ta nữa.

Ngoài những lời kể ít ỏi về bọn cướp như trên của các nhân viên làm việc tại Ngân hàng Brink, lực lượng điều tra cũng chỉ thu được một vài chứng cứ. Đó là mấy đoạn dây và băng dính mà bọn tội phạm đã dùng để trói và bịt miệng các nhân viên ngân hàng; một chiếc mũ lưỡi trai hiệu Chauffeur  bọn cướp để lại hiện trường gây án.

Sau khi vụ cướp xảy ra vài tiếng đồng hồ, tất cả đối tượng bị nghi ngờ thuộc xã hội đen ở Boston đều bị cảnh sát gọi hỏi. Mọi hoạt động trong khoảng trung tuần tháng 1 của tất cả những thành viên xã hội đen cũng như của người từng phạm tội ở khắp nơi trên nước Mỹ trở thành đối tượng điều tra.

Những người dân sống quanh khu vực đóng trụ sở của Brink cũng được các nhân viên FBI tiếp xúc. Mọi nhân viên và cán bộ của ngân hàng Brink, kể cả cũ và đang làm lúc đó, đều tham gia trả lời một hệ thống câu hỏi về những người có hoạt động giao dịch với Brink, thậm chí về cả những người từng gọi điện thoại đến đây, bởi vì theo FBI họ là những người ít nhiều nắm được cách xếp đặt các vị trí trong trụ sở của Brink cũng như quy luật hoạt động của ngân hàng này.

Chính phủ Mỹ treo thưởng trị giá 100.000 USD cho người cung cấp thông tin giúp bắt và truy tố tội phạm. Cuộc điều tra đã thu hút hàng triệu người Mỹ giúp sức.

Trong lúc điều tra và thu thập thông tin từ những người dân sống quanh trụ sở Ngân hàng Brink vào tối 17/1/1950, các nhân viên đặc biệt của FBI được biết có một chiếc xe tải  Ford màu xanh với mui phủ bạt đỗ gần cổng lớn của Ngân hàng Brink trong khoảng thời gian xảy ra vụ cướp ở đây. Từ quy mô và số người tham gia vụ cướp, người ta đã nghĩ đến khả năng bọn cướp sử dụng xe tải tương tự trong vụ án.

Vào ngày 4/3/1950, người ta phát hiện nhiều mảnh vụn của một chiếc xe tải giống hệt chiếc xe nói trên tại một khu bãi rác ở Stoughton, Massachusetts. Cạnh đó, người ta còn phát hiện một chiếc đèn dùng khí axetylen và một chiếc búa tạ được dùng để cắt và phá chiếc xe tải này thành các mảnh vụn. Những mảnh vụn này được giấu trong các bao tải, chứng tỏ những người phá chiếc xe tải muốn phi tang.

Việc phát hiện ra số bao tải đựng các mảnh vụn ôtô đã mở ra một tia hy vọng lớn cho công tác điều tra. Lực lượng điều tra đặc biệt của FBI vốn nghi ngờ 2 người đàn ông sống tại khu vực gần khu bãi rác nói trên ở Stoughton là các đối tượng tham gia vụ cướp tiền Ngân hàng Brink. Do vậy, kể từ khi các bao tải chứa các mảnh ôtô được phát hiện tại khu bãi rác Stoughton, lực lượng điều tra càng tập trung nghi ngờ vào 2 người đàn ông này.

Các đối tượng tình nghi với chứng cứ ngoại phạm hoàn hảo

Trong quá trình điều tra số người bị tình nghi đã được thu hẹp. Một trong số đó là Anthony Pino, một người nhập cư nước ngoài và nằm trong số đối tượng trộm cắp cộm cán ở Massachusetts. Tuy nhiên, khi phải khai đã ở đâu trong tối 17/1/1950, Pino đưa ra một chứng cứ ngoại phạm hoàn hảo.

Theo đó, hôm ấy anh ta ở nhà riêng tại khu Roxury ở Boston tới 19 giờ, sau đó đến quán rượu của Joseph McGinnis ở gần nhà anh ta. Tại đây, anh ta đã có cuộc chuyện trò với McGinnis và một nhân viên cảnh sát của Boston. Viên cảnh sát đã xác nhận cuộc chuyện trò này. Chứng cứ ngoại phạm này quá vững chắc, tuy nhiên chưa đủ sức thuyết phục các nhân viên FBI.

Theo lời viên cảnh sát nêu trên cho biết thì sau khi chuyện trò với McGinnis được một lúc thì Pino mới tới nhập cuộc. Nếu đi bộ từ quán rượu ở Roxbury tới trụ sở Ngân hàng Brink chỉ mất khoảng 15 phút. Pino có thể đến quán rượu sau 19 giờ 30 phút, và như vậy Pino vẫn có thể tham gia vụ cướp?

Một số người cho rằng McGinnis có đầy đủ năng lực để lên kế hoạch và thực hiện vụ cướp tầm cỡ như vụ cướp Ngân hàng Brink. Cũng như Pino, McGinnis đã rời nhà ngay trước 7 giờ tối hôm xảy ra vụ cướp và sớm chuyện trò với nhân viên Cảnh sát Boston sau đó. Nếu những tên lưu manh ở địa phương gây ra vụ cướp tiền nói trên thì thật khó tin rằng một người có nhiều ảnh hưởng như McGinnis lại không hề biết gì như anh ta giải thích.

Cả Pino và McGinnis vốn có tiếng là loại người nguy hiểm, sẵn sàng sử dụng vũ khí nóng khi cần thiết.

Hai người khác tuy chưa sử dụng súng bao giờ nhưng vẫn bị nghi ngờ, đó là Joseph James O'Keefe và Stanley Albert Gusciora. Theo kết quả điều tra thì O'Keefe và Gusciora từng “hợp tác” với nhau trong một vài vụ án. Cả hai từng bị án tù, và vào thời điểm vụ án Brink xảy ra chúng cũng có mặt tại khu vực gần đó, nên chúng là đối tượng tình nghi nổi cộm. O'Keefe là tay điềm tĩnh. Báo cáo về O'Keefe cho thấy y từng giúp đỡ một số tay cờ bạc ở Boston và dính líu tới hoạt động tống tiền các tay cá cược đua ngựa.

Giống như  Gusciora, O'Keefe cũng từng hợp tác với Pino trước khi xảy ra vụ cướp tiền ở Brink. Trong vụ cướp tiền này, cả 2 tên đều bị gọi xét hỏi. O'Keefe cũng đưa ra chứng cứ ngoại phạm đầy thuyết phục rằng y rời căn phòng y thuê của một khách sạn ở Boston vào khoảng 19 giờ ngày 17/1/1950, ngày xảy ra vụ cướp Brink; và trong khoảng thời gian vụ cướp xảy ra, y đang uống rượu tại một quán bar. Còn Gusciora cũng khai y đi uống rượu vào tối xảy ra vụ cướp.

Vào ngày 2/6/1950, O'Keefe và Gusciora rời Boston đi xe máy tới nghĩa trang chôn cất người anh của O'Keefe ở Missouri. Nhưng hành động của họ cho thấy họ còn có mục đích khác ngoài mục đích đến thăm mộ người anh.

Vào ngày 12/6, họ bị bắt giữ tại Towanda, Pennsylvania. Súng và các loại quần áo  bị mất trong các vụ trộm cắp (không phải vụ cướp Ngân hàng Brink) xảy ra tại Kane và Coudersport, Pennsylvania đã được tìm thấy ở nơi các đối tượng này sinh sống.

Vào ngày 8/9/1950, tên O'Keefe đã bị Tòa án tuyên phạt 3 năm tù giam, thi hành án tại nhà tù Bradford ở Towanda, nộp phạt 3.000 USD vì hành vi sử dụng trái phép súng quân dụng. Còn Gusciora, vào ngày 11/10/1950, bị tuyên phạt tù giam từ 5 tới 12 năm tại trại cải tạo  ở Pittsburgh.

Dù thiếu chứng cứ buộc tội và người làm chứng nhưng lực lượng điều tra vẫn nghi ngờ O'Keefe là một trong những nhân vật chủ chốt của vụ cướp Ngân hàng Brink.

Trong quá trình thu thập các thông tin trong giới xã hội đen nhằm tìm ra những kẻ tình nghi chính gây ra vụ cướp tiền Brink, FBI đã lần ra nhiều đối tượng có khả năng là thành viên của toán cướp gây ra vụ cướp tiền này. Trong số đó có  Adolph “Jazz” Maffie. Khi bị các nhân viên điều tra hỏi đã ở đâu vào tối 17/1/1950, tức là vào tối xảy ra vụ cướp tiền Brink, Maffie đã không thể khai báo một cách rõ ràng.

Henry Baker, một đối tượng bất hảo khác từng ngồi tù nhiều năm tại nhà tù Norfolk ở Massachusetts, được ra tù vào ngày 22/8/1949, trước khi xảy ra vụ cướp tiền ở Ngân hàng Brink chỉ 5 tháng. Trả lời câu hỏi là y đã làm gì trong thời gian xảy ra vụ cướp tiền Brink, Baker khai hôm đó y ăn tối cùng gia đình rồi ra khỏi nhà vào khoảng 19 giờ, đi bộ xung quanh khu nhà ở khoảng 2 tiếng đồng hồ. Trong lúc đi bộ, y không gặp một ai và cũng không dừng lại đâu. Tuy nhiên, các nhân viên điều tra cho rằng y có thể làm bất cứ chuyện gì từ 19 giờ đến 21 giờ.

Nổi bật nhất trong số các đối tượng bị tình nghi là Vincent James Costa, anh vợ của Pino. Costa cùng Pino làm việc tại một trạm ôtô và bán vé số ở Boston. Costa  từng liên quan đến một vụ cướp sử dụng vũ khí nóng vào năm 1940 và bị tù vài tháng tại nhà tù liên bang và nhà tù Norfolk ở Massachusetts. Costa khai, vào ngày xảy ra vụ cướp Brink y làm việc tại trạm ôtô cho tới 17 giờ, sau đó về nhà ăn tối, rồi khoảng 19 giờ, y trở lại làm việc tại trạm ôtô cho tới 21 giờ.

Một thành viên xã hội đen khác cũng đang có những rắc rối riêng là James Ignatius Faherty, một kẻ chuyên dùng súng để cướp. Trước tiên Faherty bị các nhân viên đặc biệt chú ý bởi tên y xuất hiện trong một cuộc trao đổi của giới xã hội đen vào tháng 1/1950 về kế hoạch sử dụng ống nhòm theo dõi những con mồi có nhiều tiền. Faherty cũng bị điều tra về chuyện đã đi đâu và làm gì trong tối xảy ra vụ cướp tiền ở Ngân hàng Brink.

Y khai trong quãng thời gian từ 17 giờ 10 phút đến 19 giờ 45 phút, y uống rượu ở một vài quán rượu. Một số người cho biết có nhìn thấy y. Tuy nhiên, khi đi sâu điều tra, các nhân viên FBI thấy rõ y có liên quan đến những đối tượng tình nghi gây ra vụ cướp Ngân hàng Brink.

Phân tích kỹ các chứng cứ ngoại phạm do các đối tượng tình nghi khai, FBI nhận thấy “19 giờ” ngày 17/1/1950 là cụm từ thường xuyên được các đối tượng nhắc đến. O'Keefe khai rời khách sạn vào khoảng 19 giờ.  Pino và Baker ra khỏi nhà cũng vào 19 giờ. Còn Costa bắt đầu trở lại trạm ôtô lúc 19 giờ. Các đối tượng tình nghi khác thì không khai báo rành mạch là họ đã làm gì tối xảy ra vụ cướp.

Mâu thuẫn ngày càng tăng

Những lời đồn trong giới xã hội đen lúc ấy cho rằng,  Maffie Henry Bake bị O'Keefe căm thù nhất và phải thanh toán trước tiên sau khi mãn hạn tù bởi Bake và đồng bọn đã không chia chác cho y một khoản tiền lớn nào đó. Bake có nghe được những lời đồn đại này hay không thì không ai biết. Tuy nhiên, ngay sau khi O'Keefe trở lại Boston  vào tháng 3/1954, Baker và vợ đã đi nghỉ.

Vào ngày 5/6/1954 một âm mưu thủ tiêu O'Keefe được thực hiện. Trong giới tội phạm xôn xao chuyện vào sáng sớm hôm ấy, một chiếc ôtô bất ngờ tạt sườn chiếc ôtô của O'Keefe khi y đang chạy xe ở  Dorchester, Massachusetts. Thoáng nghi ngờ, O'Keefe đã cúi thấp xuống trên ghế trước của xe đúng lúc kẻ ám sát bắn đạn xuyên qua kính ôtô. O'Keefe thoát chết trong gang tấc.

Vụ ám sát thứ 2 diễn ra vào ngày 14/6/1954 ở Dorchester, Massachusetts khi O'Keefe và người bạn tống tiền của y tới “thăm” Baker. Trong lúc lâm vào tình thế căng thẳng thần kinh tột độ, Baker đã rút súng bắn 2 tên này, nhưng không một viên đạn nào trúng đích. Sau đó Baker nhanh chóng tẩu thoát.

Vụ ám sát thứ 3 được thực hiện vào ngày 16/6/1954 cũng ở Dorchester. Kẻ ám sát đã bắn hơn 30 phát. O'Keefe bị thương ở cổ tay và ngực nhưng cũng thoát chết. Cảnh sát đến điều tra phát hiện tại hiện trường có một vũng máu lớn, một chiếc đồng hồ đeo tay bị vỡ của kẻ bị ám sát và một khẩu súng ngắn cỡ nòng 45. Một đầu đạn đi chệch mục tiêu được phát hiện bên trong một tòa nhà cạnh hiện trường.

Theo Tin Tuc Online

Cập nhật: July 09 2008 02:32:21. Bản để in ra

Ý Kiến Độc Giả:
Download để duyệt web nhanh hơn và sau đó dùng tips này để double speed
Họ Tên:
Thành Phố, Tiểu bang:
Quốc Gia:
Email:
Ý Kiến:
   
Tin Việt Online không bảo đảm đăng mọi ý kiến gởi về.


CÁC TIN ĐÃ ĐĂNG:



 


 


 


 

Các Tin Khác
Your Ad Here