Sau những áp lực trần lãi suất (LS) tiền gửi tiết kiệm. Hiệp hội Ngân hàng VN lại buộc phải tăng mức trần LS trở lại là 12%. Mặc dù có sự đồng thuận của các ngân hàng (NH) thành viên, nhưng đó chỉ là sự "bằng mặt không bằng lòng".
>> Diễn biến tình trạng căng thẳng lãi suất ngân hàng
 |
| (Ảnh minh họa) |
Bởi có ý kiến cho rằng, trần LS 12% khi chỉ số lạm phát đã lên đến 11,6% và theo dự báo từ nay đến cuối năm sẽ lên đến 14-15% thì tiền gửi tiết kiệm sẽ thực âm, sẽ không đủ "lực" để huy động vốn nhàn rỗi. Thực tế, có phải do ảnh hưởng chỉ số lạm phát mới có ý kiến trên?
Ở đây, có hai "định hướng" rõ rệt: các NH lớn, nguồn vốn dồi dào thì không muốn nâng trần LS. Họ cũng không cần huy động nguồn từ tiền nhàn rỗi trong dân, do cho vay qua liên NH hiện là 25%/năm, lúc nào điểm lên đến 30-35%/năm, nhắm mắt cũng có lời. Nếu tăng chi phí đầu vào là phải tăng đầu ra, buộc các doanh nghiệp phải tăng giá thành sản phẩm, đâu cũng vào đấy!
Ngược lại, các NH nhỏ, đang thiếu hụt vốn thì cần huy động từ dân, trần LS lên cao hơn một chút cũng không cao bằng vay qua liên NH. Như vậy, Nhà nước chỉ mới khống chế mức trần LS cho "thị trường 1" mà thả nổi cho "thị trường 2" - đó là LS vay qua liên NH.
Hệ lụy là dẫn đến hiện tượng hoạt động sau NH giữa các doanh nghiệp. Hiện nay, đầu tư vàng bấp bênh, bất động sản đóng băng, thị trường chứng khoán chưa có lối ra, gửi NH thì LS thấp. Về phía NH thì siết cho vay, trong khi doanh nghiệp lại có nhu cầu vay.
Cuối cùng, doanh nghiệp đang thừa tiền chẳng dại gì gửi tiết kiệm, mà cho vay giữa doanh nghiệp với nhau, dựa trên uy tín, mối quan hệ. Mà doanh nghiệp thì không có chức năng cho vay, nên phải cho vay theo hình thức thông qua ủy thác. Nghĩa là họ gửi tiết kiệm rồi dùng chính sổ tiết kiệm đó đi vay lại cho doanh nghiệp bạn, hưởng chênh lệch.
Một giám đốc NH thương mại cổ phần cho rằng, việc NH thiếu tiền mặt trầm trọng là do trước đó các NH đã "bung" tiền mặt cho các nguồn đầu tư, trong đó nguồn đầu tư không hiệu quả chiếm tỷ lệ đáng kể. NH Nhà nước thấy được điều đó, lập tức đưa ra chính sách rút vốn về, mà chưa có kế hoạch tiếp theo. Đó chỉ là những "giải pháp" tình thế cho từng trường hợp cụ thể, đẩy LS huy động lên cao.
Sự trồi sụt của LS khiến người dân chẳng còn hứng thú gửi tiền. Khi LS tăng cao ở cuối tháng 4, đã huy động được khoảng 528.000 tỷ đồng. Nhưng sau đó, người dân đã rút ra gần 480.000 tỷ đồng. Riêng tháng 4, nguồn huy động giảm gần 9.000 tỷ đồng. Từ đó dẫn đến những NH nhỏ không đủ thanh khoản, phải vay qua liên NH và đòi tăng mức trần LS.
NH Nhà nước cũng có động thái hỗ trợ, nhưng hình thức hỗ trợ còn mang tính đại trà, không tập trung vào những NH đang thiếu hụt vốn. Sự hỗ trợ này còn "ưu ái" cho những NH đang nắm trong tay giấy tờ có giá trị của Chính phủ ban hành như tín phiếu NH Nhà nước, trái phiếu... mà chỉ có những NH mạnh mới có đủ các tiêu chuẩn trên. Điều này vô hình trung "nhà giàu tiếp tục giàu", "nhà nghèo" thì tự lo.